Truy cập nội dung luôn
 
Chào mừng đến với Trang tin Phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Tiền Giang.

Chi tiết tin

Một số quy định về căn cứ xác định và thủ tục yêu cầu bồi thường theo Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017
06/09/2021

Ngày 20/6/2017, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Luật TNBTCNN) năm 2017. Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2018 và thay thế Luật TNBTCNN năm 2009. Việc ban hành Luật TNBTCNN năm 2017 có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi đây là một bước hoàn thiện về mặt thể chế điều chỉnh trách nhiệm bồi thường của nhà nước, tiếp tục cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân, đồng thời, thể hiện rõ tránh nhiệm của Nhà nước đối với việc củng cố, hoàn thiện hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, nền công vụ cũng như trách nhiệm của Nhà nước trước công dân. Trong khuôn khổ bài viết, tác giả sẽ giới thiệu một số nội dung về căn cứ phát sinh và thủ tục yêu cầu bồi thường nhà nước theo Luật TNBTCNN năm 2017.

1. Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Theo Điều 7 Luật TNBTCNN, Nhà nước có trách nhiệm bồi thường khi đủ các căn cứ sau:

-  Thứ nhất, có một trong các căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại và yêu cầu bồi thường tương ứng, cụ thể:

+ Có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN và có yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại hoặc Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự giải quyết yêu cầu bồi thường. Theo Khoản 5 Điều 3 Luật TNBTCNN thì văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường là văn bản đã có hiệu lực pháp luật do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định, trong đó xác định rõ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ hoặc là bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định rõ người bị thiệt hại thuộc trường hợp được Nhà nước bồi thường.

- Thứ hai, có thiệt hại thực tế của người bị thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Thiệt hại  được bồi thường là thiệt hại thực tế đã phát sinh, các khoản lãi và chi phí khác theo quy định mà người bị thiệt hại phải chịu do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra, bao gồm: (1) Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm; (2) thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; (3) thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết; (4) thiệt hại về vật chất do sức khỏe bị xâm phạm; (5) thiệt hại về tinh thần; (6) các chi phí khác như: chi phí thuê phòng nghỉ, chi phí đi lại, in ấn tài liệu, gửi đơn thư trong quá trình khiếu nại, tố cáo; chi phí thuê người bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hai; chi phí đi lại để thăm gặp của thân nhân người bị tạp giữ, người bị tạm giam, người chấp hành án phạt tù về thi hành án hình sự.

-  Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại.

Mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại ở đây được hiểu là thiệt hại thực tế mà người bị thiệt hại gánh chịu phải bắt nguồn từ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Nếu trường hợp một vụ việc có hành vi trái pháp luật, có thiệt hại thực tế phát sinh nhưng thiệt hại đó không bắt nguồn từ hành vi trái pháp luât, thì cũng không phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

2. Quyền yêu cầu bồi thường

Theo quy định của Luật Những người sau đây có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường:

Một là, Người bị thiệt hại;

Hai là, Người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết; tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại;

Ba là, Người đại diện theo pháp luật của người bị thiệt hại thuộc trường hợp phải có người đại diện theo pháp luật theo quy định của Bộ luật Dân sự;

Bốn là, Cá nhân, pháp nhân được những người có quyền yêu cầu bồi thường như trên ủy quyền thực hiện quyền yêu cầu bồi thường.

3. Thời hiệu yêu cầu bồi thường

- Thời hiệu yêu cầu bồi thường là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu bồi thường nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 52 của Luật TNBTCNN và trường hợp yêu cầu phục hồi danh dự.

- Thời hiệu yêu cầu bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hành chính được xác định theo thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính.

- Thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường:

+ Khoảng thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự làm cho người có quyền yêu cầu bồi thường không thể thực hiện được quyền yêu cầu bồi thường;

+ Khoảng thời gian mà người bị thiệt hại là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi chưa có người đại diện theo quy định của pháp luật hoặc người đại diện đã chết hoặc không thể tiếp tục là người đại diện cho tới khi có người đại diện mới.

+ Người yêu cầu bồi thường có nghĩa vụ chứng minh khoảng thời gian không tính vào thời hiệu quy định trên.

4. Hồ sơ yêu cầu bồi thường

- Trường hợp người bị thiệt hại trực tiếp yêu cầu bồi thường thì hồ sơ yêu cầu bồi thường bao gồm:

+ Văn bản yêu cầu bồi thường (theo mẫu 01/BTNN ban hành kèm theo Thông tư số 04/2018/TT-BTP ngày 17/5/2018 của Bộ Tư pháp);

+ Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp người bị thiệt hại không được gửi hoặc không thể có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường;

+ Giấy tờ chứng minh nhân thân của người bị thiệt hại;

+ Tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường (nếu có).

- Trường hợp người yêu cầu bồi thường là người thừa kế (nếu có nhiều người thừa kế thì những người thừa kế đó phải cử ra một người đại diện) hoặc là người đại diện của người bị thiệt hại thì ngoài các tài liệu quy định như: Văn bản yêu cầu bồi thường; Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp người bị thiệt hại không được gửi hoặc không thể có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường; Tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường (nếu có), hồ sơ còn phải có các tài liệu sau đây:

+ Giấy tờ chứng minh nhân thân của người thừa kế, người đại diện của người bị thiệt hại;

+ Văn bản ủy quyền hợp pháp trong trường hợp đại diện theo ủy quyền;

+ Trường hợp người bị thiệt hại chết mà có di chúc thì người yêu cầu bồi thường phải cung cấp di chúc, trường hợp không có di chúc thì phải có văn bản hợp pháp về quyền thừa kế.

Người yêu cầu bồi thường nộp 01 bộ hồ sơ trực tiếp hoặc gửi hồ sơ qua dịch vụ bưu chính tới cơ quan giải quyết bồi thường.

Trường hợp chưa xác định ngay được cơ quan giải quyết bồi thường, người yêu cầu bồi thường nộp hồ sơ đến Sở Tư pháp nơi người bị thiệt hại cư trú hoặc có trụ sở. Trường hợp người yêu cầu bồi thường trực tiếp nộp hồ sơ thì các giấy tờ, tài liệu và chứng cứ quy định trên là bản sao nhưng phải có bản chính để đối chiếu; trường hợp người yêu cầu bồi thường gửi hồ sơ qua dịch vụ bưu chính thì các giấy tờ, tài liệu và chứng cứ là bản sao có chứng thực theo quy định của pháp luật về chứng thực.

                                                                                                                                                                    Phòng HC&BTTP

Tương phản
Đánh giá bài viết(0/5)

Tin mới Tin mới

Tất cả videos
Điểm tin an ninh TGG(19-09)
Giới thiệu Tạp chí điện tử Thương hiệu & Pháp luật(14-09)